Hiệp hội Taxi TP HCM cảm ơn Bộ Tài chính kịp thời giải đáp thắc mắc


Ngày 24/3, Hiệp hội Taxi TP HCM đã có văn bản số 06-HHTX-2017 cảm ơn Bộ Tài chính đã giải đáp kịp thời những kiến nghị của Hiệp hội về chính sách thuế đối với hoạt động taxi.

Văn bản của Hiệp hội taxi TP HCM nêu rõ: “Trước yêu cầu của các hãng taxi, ngày 11/01/2017, Hiệp hội taxi TP HCM đã có văn bản số 02/HHTX-2017 gửi Bộ Tài chính để phản ánh các bức xúc - thắc mắc của các hãng taxi truyền thống tại TP HCM, đồng thời cũng có một số kiến nghị.

Hiệp hội taxi TP HCM đã nhận được Công văn số 3166/BTC-CST, trong đó Bộ Tài chính đã giải thích các chính sách thuế hiện hành đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải. Đặc biệt, đã viện dẫn cặn kẽ phương pháp tính thuế GTGT gồm phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.

Sau khi sao gửi Công văn 3166/BTC-CST của Bộ Tài chính cho các đơn vị thành viên, Hiệp hội chưa ghi nhận phản ứng hoặc góp ý nào khác. Hiệp hội taxi TP HCM cảm ơn lãnh đạo Bộ Tài chính đã quan tâm đến các bức xúc và thỉnh cầu của chúng tôi, đã giúp các DN kinh doanh taxi tại TP HCM hiểu rõ thêm về chính sách thuế và Luật Thuế GTGT của Nhà nước.

Trước đó, nhằm giải đáp kịp thời những kiến nghị của Hiệp hội về chính sách thuế đối với hoạt động taxi Bộ Tài chính đã có Công văn số 3161/BTC-CST ngày 10/3/2017 gửi Hiệp hội Taxi TP HCM, Công văn của Bộ Tài chính nêu rõ:

“1. Về kiến nghị cho doanh nghiệp kinh doanh taxi truyền thống được áp dụng cách tính doanh thu tính thuế như đã hướng dẫn đối với Uber, Grab hoặc cho taxi truyền thống nộp thuế GTGT (GTGT) với thuế suất 5% thay vì 10% như hiện nay

Pháp luật về thuế hiện hành áp dụng thống nhất giữa các loại hình doanh nghiệp (thống nhất về mức thuế suất, về điều kiện ưu đãi đầu tư, chế độ miễn, giảm thuế,...). Doanh nghiệp xác định được doanh thu, chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì phải nộp thuế theo phương pháp kê khai. Phương pháp tỷ lệ trên doanh thu tính thuế chỉ áp dụng đối với nhà thầu nước ngoài không đáp ứng điều kiện nộp thuế theo phương pháp kê khai, tổ chức không phải là doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, cá nhân kinh doanh có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh.

Tỷ lệ thuế ấn định trên doanh thu được xác định trên cơ sở doanh thu tính thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và tỷ lệ (%) thuế GTGT, thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế đảm bảo phù hợp với từng lĩnh vực kinh doanh và tương đồng với doanh nghiệp hoạt động cùng lĩnh vực nộp thuế theo phương pháp kê khai.

* Về thuế GTGT:

Tại Điều 9 Luật Thuế GTGT quy định: Phương pháp tính thuế GTGT gồm phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.

Tại điểm b, Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định: Đối với phương pháp trực tiếp doanh nghiệp kinh doanh vận tải (trong đó có vận tải taxi) nộp thuế GTGT theo tỷ lệ % trên doanh thu là 3%. Theo cách tính này, thuế GTGT của các chi phí đầu vào (như chi phí văn phòng, sửa chữa, mua sắm tài sản cố định...) sẽ không được khấu trừ;

Đối với phương pháp khấu trừ thuế GTGT: Doanh nghiệp áp dụng thuế suất thuế GTGT đối với dịch vụ vận tải là 10%, thuế GTGT phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào. Do vậy, khi xác định thuế GTGT phải nộp doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT của các chi phí đầu vào (như chi phí văn phòng, sửa chữa, mua sắm tài sản cố định...).

Theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 thì thuế suất thuế GTGT dần được quy về áp dụng thống nhất 10%, thuế suất 5% chỉ áp dụng đối với hàng hóa thiết yếu và thuế suất 0% áp dụng đối với hàng xuất khẩu. Căn cứ quy định của pháp luật thuế hiện hành, Hiệp hội kiến nghị “cho taxi truyền thống nộp thuế GTGT với thuế suất 5%” là không có cơ sở.

* Về thuế TNDN:

 Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 (Điều 11) quy định:

“1. Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất; trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập ở ngoài Việt Nam thì được trừ số thuế thu nhập đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của Luật này.

  1. Phương pháp tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.

Căn cứ quy định nêu trên, doanh nghiệp xác định được doanh thu, chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì phải nộp thuế theo phương pháp kê khai. Phương pháp tỷ lệ trên doanh thu tính thuế chỉ áp dụng đối với nhà thầu nước ngoài không đáp ứng điều kiện nộp thuế theo phương pháp kê khai hoặc đơn vị sự nghiệp, tổ chức khác không phải là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế TNDN mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ thuế ấn định trên doanh thu được xác định trên cơ sở doanh thu tính thuế TNDN phù hợp với từng lĩnh vực kinh doanh (Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN).

Theo số liệu của ngành thuế, tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong số 10 doanh nghiệp có doanh thu lớn thì 02 doanh nghiệp phát sinh số thuế GTGT còn được khấu trừ, không phát sinh số thuế GTGT phải nộp (Công ty TNHH du lịch Mai Linh; Công ty TNHH du lịch Thành Bưởi), một số doanh nghiệp khác mức tỷ lệ nộp thuế GTGT/doanh thu dưới 3% (Công ty cổ phần Gia Định, Công ty vận chuyển Sài Gòn Tourist, hợp tác xã vận tải số 10). Về thuế TNDN, hầu hết các doanh nghiệp đều có mức tỷ lệ nộp thuế TNDN/doanh thu thấp hoặc không phát sinh thuế TNDN phải nộp, mức tỷ lệ nộp khoảng 0,01% đến 0,06%. Riêng Công ty TNHH Ánh Dương mức tỷ lệ nộp thuế TNDN là 1,97%/doanh thu (tương đương mức khoán của Uber).

Với thông tin Hiệp hội Taxi thành phố Hồ Chí Minh cho rằng “taxi truyền thống đang phải chịu khá nhiều loại thuế, phí với mức thuế suất chênh lệch khá xa so với Grab, Uber” là chưa có cơ sở. Bộ Tài chính đang chỉ đạo rà soát trường hợp có dấu hiệu rủi ro gian lận về thuế, cơ quan thuế sẽ thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp và xử lý theo quy định của pháp luật.

  1. Về kiến nghị doanh thu tính thuế đối với Grab, Uber và nhà đầu tư hợp tác với Grab, Uber phải trên cơ sở 100% doanh thu

Về vấn đề này, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 11828/BTC-CST ngày 24/8/2016 hướng dẫn về chính sách thuế và quản lý thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Uber B.V Hà Lan tại Việt Nam. Theo đó:

- Công ty TNHH Uber B.V Hà Lan không đáp ứng điều kiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 và điểm a khoản 2 Điều 13 Thông tư số 60/2012/TT-BTC ngày 12/4/2012 và Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế của Uber B.V Hà Lan như sau:

Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu được hưởng là 3%;

Tỷ lệ % để tính thuế TNDN trên doanh thu được hưởng là 2%.

- Đối với tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã) kinh doanh vận tải được thành lập theo quy định của pháp luật ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Uber B.V Hà Lan để kinh doanh có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế GTGT, thuế TNDN đối với phần doanh thu được hưởng theo hợp đồng (không bao gồm phần doanh thu của Công ty TNHH Uber B.V Hà Lan).

- Đối với cá nhân ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Uber B.V Hà Lan để kinh doanh vận tải thì nghĩa vụ thuế như sau:

Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu được hưởng là 3%;

Tỷ lệ % để tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trên doanh thu được hưởng là 1,5%.

Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 384/TCT-TNCN ngày 08/02/2017 gửi Cục thuế các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Ninh hướng dẫn chính sách thuế đối với hoạt động hợp tác kinh doanh của Công ty Grab Taxi, theo đó:

- Đối với Công ty TNHH Grab Taxi: khai và nộp thuế theo quy định hiện hành đối với phần doanh thu được chia từ hoạt động kinh doanh vận tải theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

- Đối với tổ chức kinh doanh vận tải hợp tác với Công ty TNHH Grab Taxi: nộp thuế GTGT, thuế TNDN theo quy định của pháp luật đối với phần doanh thu được chia từ hoạt động kinh doanh vận tải theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

- Đối với cá nhân kinh doanh theo hình thức hợp tác kinh doanh vận tải

Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu chịu thuế GTGT là 3%

Tỷ lệ % để tính thuế TNCN trên doanh thu chịu thuế TNCN là 1,5%

Khoản tiền thưởng khuyến khích theo doanh thu ngày: không tính thuế GTGT, cá nhân nộp thuế TNCN theo tỷ lệ 1% trên tiền thưởng

Khoản tiền thưởng chất lượng phục vụ theo đánh giá sao: tính thuế TNCN với mức 10% trên tiền thưởng từ 2 triện đồng/lần trở lên.

Nội dung hướng dẫn nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật về thuế hiện hành. Toàn bộ doanh thu từ hoạt động kinh doanh vận tải đều phải kê khai, nộp thuế. Đối với từng tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chia sẻ doanh thu có nghĩa vụ nộp thuế trên phần doanh thu được chia theo thỏa thuận hợp tác.

Nếu xác định doanh thu tính thuế của Uber, Grab là 100% doanh thu vận tải thu được từ khách hàng sẽ dẫn đến việc đánh thuế trùng và không hợp lý, vì: trong số 100% doanh thu vận tải thu được từ khách hàng, Uber chỉ được hưởng 20% doanh thu vận tải; phần còn lại 80% doanh thu vận tải được chia cho tổ chức, cá nhân hợp tác với Uber theo thỏa thuận hợp đồng hợp tác kinh doanh và tổ chức, cá nhân này phải kê khai, nộp thuế theo quy định đối với phần doanh thu được hưởng. Do đó, đề nghị thực hiện theo quy định.”


Nguồn:

Theo Mof